Sơ lược thông tin về Canxedon

 

149 canxedons Sơ lược thông tin về Canxedon là một dạng ẩn tinh của silica, gồm rất nhiều hạt thạch anh và moganit rất nhỏ mọc xen kẽ. Thạch anh và moganit giống nhau về thành phần chỉ khác nhau về cấu tạo tinh thể, thạch anh thuộc hệ tinh thể ba phương còn moganit thuộc hệ tinh thể đơn tà.

Canxedon là biểu tượng của chòm sao Nhân Mã trong cung hoàng đạo, năng lượng cảm xạ có tác dụng tới các luân xa tùy thuộc vào mầu sắc của đá.

Canxedon có ánh sáp, đôi khi mờ và có nhiều màu khác nhau, phổ biến là trắng đến xám, xám xanh và nâu tới đen. Canxedon trong tự nhiên có rất nhiều loại khác nhau, và nó được xem là loại đá bán quý:

  • Agat là một dạng của canxedon với cấu tạo vân tròn đồng tâm.
  • Carnelian là một dạng canxedon nâu đỏ trong suốt. Màu của nó biến đổi từ màu cam nhạt đến đen. Trong khi đó sard chủ yếu là màu đen.
  • Chrysoprase là canxedon màu lục và cũng là màu của niken ôxít. Loại có sắc tối hơn được gọi là prase. Tuy nhiên, prase cũng thường được mô tả là thạch anh lục.
  • Heliotrope là loại canxedon màu lục có chứa các thể vùi ôxít sắt làm cho nó có màu đỏ máu nên còn được gọi là bloodstone. Một loại khác tương tự Heliotrop có màu vàng được gọi là plasma.
  • Agat xanh rêu chứa các sợi màu xanh làm cho nó có màu rêu. Cấu tạo của nó không hoàn toàn giống như agat vì nó không có vân tròn đồng tâm.
  • Mtorolit là canxedon màu lục trong thành phần có chứa crôm được tìm thấy ở Zimbabwe.
  • Onyx là một loại agat có vân đen và trắng xen kẽ, còn loại có vân nâu và trắng là sardonyx.

Cấu trúc:

Canxedon từng có thời được coi là trạng thái dạng sợi của thạch anh ẩn tinh. Tuy nhiên, gần đây người ta đã chứng minh rằng nó có chứa dạng đa hình đơn tà của thạch anh, gọi là moganit. Tỷ lệ theo khối lượng của moganit trong một mẫu vật canxedon điển hình có thể dao động trong khoảng từ ít hơn 5% tới trên 20%. Sự tồn tại của moganit từng có thời bị coi là đáng ngờ, nhưng hiện nay nó được Hiệp hội Khoáng vật học Quốc tế (IMA) chính thức công nhận.

Tính hòa tan:

Canxedon dễ hoàn tan hơn thạch anh trong điều kiện nhiệt độ thấp, kể cả 2 khoáng vật trên đồng nhất về thành phần hóa học. Vì canxedon có hạt rất mịn nên tỷ số bề mặt/thể tích là rất lớn. Tính tan cũng một phần nhờ sự có mặt của moganit.

Bảng dưới đây đưa ra các nồng độ cân bằng của silic hòa tan tổng cộng trong nước tinh khiết được tính toán bởi PHREEQC sử dụng cơ sở dữ liệu llnl.dat.

Nhiệt độ (°C) Độ hòa tan của thạch anh (mg/L) Độ hòa tan của canxedon (mg/L)
0,01 0,68 1,34
25.0 2,64 4,92
50,0 6,95 12,35
75,0 14,21 24,23
100,0 24,59 40,44

Nguồn gốc:

Canxedon ở dạng các ổ trong đá bazan, melaphyr, hạnh nhân và cả trong đá vôi, là khoáng vật thứ sinh nhiệt độ thấp .

Nguồn: Wikipedia

Cùng Danh Mục :

Liên Quan Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>